nguyen dinh luong nguyen dinh luong 1 nguyen dinh luong 2 nguyen dinh luong 3 nguyen dinh luong 4 nguyen dinh luong 5
    Hiệp Định Thương Mại
    Những Bài Viết
   Lượt Truy Cập
Đang online  : 2
Lượt thứ       : 74024

DIỄN VĂN Lễ kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh do Hội đồng hương Nam Đàn tại Hà Nội tổ chức. Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh ngày 14/5/2017.

DIỄN VĂN

Lễ kỷ niệm 127 năm ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh

do Hội đồng hương Nam Đàn tại Hà Nội tổ chức.

Viện Bảo tàng Hồ Chí Minh ngày 14/5/2017.

------------------------------------

Kính thưa quý vị đại biểu!

Kính thưa các vị khách quý!

Kính thưa bà con đồng hương Nam Đàn, đồng hương xứ Nghệ!

Như một truyền thống, hàng năm cứ vào dịp này bà con đồng hương Nam Đàn, đồng hương xứ Nghệ lại gặp nhau ở đây, để giao lưu và để kỷ niệm ngày sinh Hồ Chủ tịch - Người con vĩ đại của dân tộc Việt Nam anh hùng, của xứ Nghệ bất khuất.

Thưa quý vị đại biểu!

Thưa bà con đồng hương!

Gặp nhau vào dịp này, không thể không kể những câu chuyện về Bác Hồ. Trong các buổi gặp đồng hương kỳ trước, chúng ta đã nói về Bác Hồ với những đề tài khác nhau.

Hôm nay chúng ta sẽ kể cho nhau nghe những câu chuyện về "Người thân của Bác".

1. Trước hết là phải nói về người đã sinh ra Bác - Bà Hoàng Thị Loan

Bà Hoàng Thị Loan sinh ra trong một gia đình nho học truyền thống.

Trong bà hội tụ nhiều phẩm chất văn hóa cao đẹp của quê hương Nam Đàn, của xứ sở Hồng Lam. 15 tuổi đã được cha gả chồng, 18 tuổi đã sinh con đầu lòng. Một cuộc sống yên bình ở một vùng quê đầy tình làng nghĩa xóm. Ngày đi làm đồng, tối về quay xe kéo sợi dệt vài.

Vợ chồng con cái sống trong cảnh đầy thi vị. "chồng miệt mài kinh sử, thiếp canh cửi đưa thoi"

Khi ông Nguyễn Sinh Sắc vào kinh đô Huế để tiếp tục con đường học hành khoa cử, bà khăn gói đi theo để nuôi chồng, nuôi con. Ở đó, bà đã lao động ngày đêm để kiếm đủ tiền cho cuộc sống đạm bạc với những mong chồng sớm thành đạt, con sớm trưởng thành.

Nhưng rồi, do lao động quá vất vả, cuộc sống túng thiếu, bà kiệt sức. Sau khi đẻ đứa con thứ 4 bà lâm bệnh nặng và qua đời ở tuổi chỉ ngoài 30.

Bà ra đi, nơi đất khách quê người, bà ra đi, bên cạnh bà là một đứa trẻ mới mấy tháng tuổi đang đói sữa và cậu con trai Nguyễn Sinh Cung, 10 tuổi, còn ngơ ngác.

Bà nhắm mắt xuôi tay mà chưa biết liệu con đường khoa cử của chồng sẽ đến đâu, không biết rồi cuộc đời của những đứa con thơ của Bà có ngày mai hay không.

Thời đó, ở Huế, luật lệ Triều đình về tang lễ ngặt nghèo lắm. Đám tang những người thứ dân như Bà Loan không được đi qua cổng chính Thành phố, lại là ngày giáp tết, không được khóc to, không được đánh trống phát tang làm kinh động đến đấng tối cao trong lầu son gác tía.

Quan tài bà được bà con phố Đông Ba lặng lẽ khiêng tay xuống thuyền theo sông Gia Hội, vượt sông Hương rồi khiêng lên núi Tam Tầng, thuộc núi Ngự Bình. Một quãng đường rất xa.

Một đám tang âm thầm, lặng lẽ, thật thê lương!

Với cậu Cung, 10 tuổi, trong sáng, ngây thơ thì những chuyện này là nỗi đau khủng khiếp, quá sức chịu đựng. Một cái cảnh mà Nguyễn Du tiên sinh đã tả: "Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm"

Thứ 2. Về người cha - ông Nguyễn Sinh Sắc`

Sớm mồ côi cha mẹ, ông Nguyễn Sinh Sắc lớn lên trong môi trường nho học, dưới sự nuôi dạy của nhà nho và sau này là bố vợ, cụ Tú Hoàng Đường.

Để thực hiện lời trăn trối đầy lòng nhân ái và trách nhiệm của cụ Tú Hoàng Đường lúc cụ tạ thế, ông Nguyễn Sinh Sắc phải theo con đường học hành khoa cử để lập nghiệp, thành danh. Nhưng khác với nhiều người khác, ông Sắc không muốn học để làm quan. Vì với ông "Quan trường thị nô lệ chi trung nô lệ hữu nô lệ" (Quan trường là nô lệ trong đám nô lệ càng nô lệ hơn).

Ông là người thông minh nổi tiếng "Uyên bác bất như San, thông minh bất như Sắc" (học rộng không ai bằng Giải San Phan Bội Châu, thông minh không ai bằng Nguyễn Sinh Sắc). Nhưng con đường khoa cử của ông cũng lận đận, học tài thi phận.

Sau khi đậu phó Bảng, lấy lý do phải chăm sóc mẹ già rồi chịu tang mẹ vợ, ông ở quê đi dạy học. Nhưng không trốn quan trường được mãi, triều đình triệu ông vào kinh đô nhận chức tham biện Bộ Lễ. Được mấy năm ông được điều đi làm tri huyện Bình Khê.

Ngồi ghế quan, ông Nguyễn Sinh Sắc nổi tiếng là quan thanh liêm, xử án công minh, ông thường bênh vực những người yếu thế trong xã hội.

Những người xứ Nghệ khảng khái như Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc thường là khó sống trong một xã hội quan trường vẩn đục. Ông bị thải hồi vì một sơ suất nào đó.

Ông là người Nghệ. Ông bất cần. Ông bỏ hết. Ông đi vào Nam ngao du, tìm một cuộc sống tự do. Nhưng trong cái xã hội đó với những người như ông, cái tự do ông tìm được cũng là tự do bị xua đuổi, tự do trong vòng kiểm soát, kiểm tra. Ông đi khắp nhiều vùng ở Nam bộ. Ông sống bằng nghề bắt mạch, kê đơn, viết liễn, thường là chỉ làm phúc không lấy tiền.

Cuộc sống không đồng xu dính túi, nhưng lúc nào ông cũng khảng khái, chính trực:

Có một lần Nguyễn Tất Thành, trên đường vào Nam, đi tìm cha. Thấy con đến, ông hỏi:

- Con đến đây làm gì ?

Cậu Thành thưa:

- Con đến tìm cha

Ông Sắc trìu mến nói với con:

- Nước mất không lo đi tìm, tìm cha phỏng có ích gì ?

Nguyễn Tất Thành từ biệt cha với niềm thôi thúc "Mất nước, phải đi tìm hồn của nước" và Nguyễn Tất Thành miệt mài đi tìm hồn nước suốt cả cuộc đời.

Cuối đời, ông trụ lại ở cực Nam Tổ quốc, làng Hòa An, Cao Lãnh với nghề xem mạch, kê đơn, cứu người.

Ngày 29/11/1929 ông phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc nhắm mắt xuôi tay.

Ông ra đi, bên cạnh không một người thân. Ba người con của ông, Nguyễn Thị Thanh, Nguyễn Sinh Khiêm đang thụ án ở Huế, Nguyễn Tất Thành vừa mới bị tòa án thực dân ở Vinh xử vắng mặt, kết án tử hình.

Thậm chí ông ra đi, không họ, không tên. Bà con xứ Hòa An chôn cất ông chỉ với cái tên "Thầy Quảng", một thầy lang nhân ái, thương người vô hạn. Thế thôi.

Ông được chôn cất ở Miếu trời sanh. Ngôi mộ không có mộ chí, rồi sớm trở thành nấm mồ vô chủ.

Được biết, sau đó, O Thanh có tìm đường vào Cao Lãnh viếng mộ, thắp hương cho cha.

Được biết, trước lúc qua đời ông đã biết là con trai ông, Nguyễn Tất Thành đã là nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đang hoạt động khắp Á, Âu.

Thưa quý vị

Thưa bà con!

Cụ Nguyễn Sinh Sắc là một ông Đồ Nghệ, tài như thế, đức như thế, đã sống như thế, đã chết như thế. Âu có phải "Tài tình chi lắm cho trời đất ghen" mà Nguyễn Du tiên sinh đã cảnh báo về số phận người tài trong một xã hội đầy tai ương ?

Thứ 3. Về người chị cả Nguyễn Thị Thanh

O Thanh, tên thật là Nguyễn Thị Bạch Liên, con gái dầu lòng

Ông Nguyễn Sinh Sắc lấy hình ảnh bông sen trắng đặt tên cho con gái đầu lòng, chắc muốn gửi gắm vào đó những ước mơ về một cuộc sống thanh bình hạnh phúc, vậy mà bông sen trắng đó, ngay từ nhỏ đã phải trải qua một cuộc đời quá đắng cay, bất hạnh.

9 tuổi chịu tang ông ngoại, 10 tuổi cha mẹ và các em rời quê vào Huế, một mình với bà ngoại, 16 tuổi, mẹ mất, 20 tuổi bà ngoại mất. O phải gánh vác mọi việc trong gia đình họ tộc.

Nhưng con nhà tông không giống lông thì cũng giống cánh:

O là người con gái xứ Nghệ đảm đang, đầy nghị lực

O đã hăng hái tham gia các phong trào yêu nước trên quê hương.

O tham gia phong trào Duy Tân hội, tiếp tế cho nghĩa quân chống Pháp. Năm 1910 bị Pháp bắt giam rồi thả năm 1911. Đến năm 1918 O lại hăng hái hoạt động. Một lần O lấy trộm súng trong một doanh trại lính khố xanh ở Vinh O lại bị bắt. Chúng mở phiên tòa, phạt O 100 trượng và khổ sai 9 năm. O bị đày vào giam ở nhà tù Quảng Ngãi.

Án sát Quảng Ngãi lúc đó là Phạm Bá Phổ, có người vợ bị bệnh sau khi sinh con, không cho con bú được. Thương người, O Thanh chữa cho ít ngày là khỏi, Phạm Bá Phổ đưa O Thanh về ở trong nhà để dạy dỗ con cái, mặc dù điều đó trái với quy định của triều đình thực dân.

Mấy năm sau Phạm Bá Phổ được thăng lên chức Tham tri bộ Hình. Phổ lên Huế, đưa O Thanh lên cùng. Ở Huế, O Thanh vẫn phải bị quản thúc theo chế độ giam lỏng, nhưng O không ở nhà Phạm Bá Phổ. Nhân cơ hội này, thương mẹ, O bí mật tìm cách đưa hài cốt mẹ về quê. Đi bộ, vượt gần 400 cây số đưa hài cốt mẹ về an táng trong vườn.

Năm 1940 mãn hạn tù O về quê Kim Liên. Cách mạng Tháng 8 thành công. Năm 1946, O xách 2 con gà và một chai tương Nam Đàn ra Hà Nội thăm em trai đang làm Chủ tịch nước.

Hai chị em gặp nhau, mừng mừng tủi tủi, nước mắt lưng tròng, như Nguyễn Du tiên sinh đã tả:

"Giọt châu thánh thót quẹn bào,

mừng mừng tủi tủi, biết bao là tình"

"mừng nào lại quá mừng này nữa chăng ?"

Rồi cụ Hồ bận quá, ngồi được nửa tiếng đồng hồ và hai chị em cũng không kịp ăn với nhau một bữa cơm sau đúng 40 năm xa cách, và sau đó chị em cũng không dịp gặp nhau.

Sau này, khi về già, ở quê, có lần nhà văn Sơn Tùng gặp O, nhà văn Sơn Tùng bạo dạn hỏi O về chuyện lập gia đình. O đã nói hết những nỗi đau thầm kín của một người phụ nữ: vốn là một người con gái nết na, thông minh, xinh đẹp. O đáng được yêu. Nhưng rồi, cách mạng, tù đày, tra tấn. O bảo: "cũng như chú Khiêm, O cũng bị kẻ thù tra tấn dã man, cháu có tưởng tượng được không chúng nung đỏ chiếc mâm đồng Một chiếc mâm đồng nung đỏ mà chúng bắt O ngồi lên đó. Vết bỏng làm biến dạng cả cơ thể, xoắn vặn cả tâm hồn. Vậy thì làm sao O có thể có gia đình được nữa ?"

Thứ 4. Về anh trai, Nguyễn Sinh Khiêm, thường gọi ông Cả Khiêm

Sống trong một gia đình giàu lòng yêu nước, khi còn là học sinh ở Huế, ông đã tham gia biểu tình chống thuế. Sau đó về quê, ông sớm tham gia vào phong trào chống Pháp đòi độc lập dưới ngọn cờ của Phan Bội Châu. Ông trực tiếp tham gia phong trào đấu tranh vũ trang dưới sự lãnh đạo của Đội Quyên, Đội Phấn.

Năm 1915, ông bị bắt, bị kết án 3 năm tù, khổ sai tại Vinh. Ba tháng sau ông vượt ngục, rồi lại hoạt động, rồi lại bị bắt, lại bị kết án 9 năm khổ sai, ông bị đày vào Ba Ngòi, Nha Trang.

Sau 5 năm khổ sai ở Ba Ngòi, năm 1920 đưa về giam lỏng ỏ Huế. Từ đó cuộc đời của ông gắn với núi Ngự, sông Hương với cái nghề đông y và thầy địa lý dưới sự giám sát, quản lý của các nhà chức trách, hàng tháng phải trình diện tòa Khâm sứ, đi đâu phải được phép.

Khoảng năm 1929, ông cả Khiêm về hành nghề ở vùng Sông Bồ, Quảng Điền. Một lần ông chữa khỏi bệnh cho một người phụ nữ, khoảng 30 tuổi, góa chồng, đã có 1 đứa con trai. Đó là bà Nguyễn Thị Giáng làm nghề hàng xáo có bán hàng xén ở chợ Phù Lễ. Hai ông bà kết bạn, ăn ở với nhau, có 3 đứa con nhưng không nuôi được.

Theo như nhà văn Sơn Tùng kể thì O Thanh cho rằng, ông cả Khiêm như vậy là do hậu quả của những cuộc tra tấn mang tính triệt giống khi ông cả Khiêm ở tù.

Khoảng cuối năm 1940, đau buồn quá ông trốn về quê Nghệ An. Ông cả Khiêm về Nghệ An như hổ về rừng, ông lại tập hợp thanh niên, mở lớp dạy võ, tổ chức diễn vở tuồng Trưng Nữ Vương, vở kịch Đề Thám của cụ Phan Bội Châu sáng tác. Giữa năm 1942 chính quyền thực dân lại bắt đưa ông trở lại Huế, quản lý ông chặt hơn.

Ngày 23/8/1945 Tổng khởi nghĩa cướp chính quyền nổ ra trên toàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Cách mạng Tháng 8 thành công, cờ đỏ sao vàng phấp phới, ảnh Chủ tịch Hồ Chí Minh được treo trang trọng trong mọi nhà. Ông Cả Khiêm mừng khôn xiết, nhưng ông đứng ngồi không yên vì còn một điều chưa được giải đáp: ngắm bức ảnh Hồ Chủ tịch, ông hỏi "Hồ Chí Minh là ai?, có phải Nguyễn Ái Quốc?" ông cố lục trong trí nhớ những nhà cách mạng đã xuất dương, bôn ba hải ngoại, xem có ai giống người trong ảnh?

Một hôm ngồi nhìn kỹ bức ảnh Hồ Chủ tịch, ông bỗng kêu lên "Đúng rồi, Hồ Chí Minh là Nguyễn Ái Quốc, là Nguyễn Tất Thành". Ông nhận ra khi ông nhìn thấy vết sẹo bên tai trái, vì có vết sẹo nên một tai nhỏ một tai to (vết sẹo đó là từ hồi nhỏ, khi ở làng Kim Liên, chú Cung với chú Luốc đi câu, cá ăn, Luốc giật câu, lưỡi câu mắc vào tai Cung, làm đứt tai, thành sẹo). Điều này chỉ có ông Khiêm mới biết được.

Trước tết năm 1946, từ Huế, bà Giáng nấu cho ông một nồi cơm nếp, một gói thịt gà rang, ông cùng hai đứa cháu lên đường ra Hà Nội thăm em ông đang làm Chủ tịch nước. Đến ga Vinh ông mua một bị cam Xã Đoài để làm quà.

Anh em gặp được nhau sau 40 năm, mừng mừng, tủi tủi ôm nhau trong nước mắt, nhưng rồi, cũng không ngồi được lâu vì cụ Hồ quá nhiều việc. Ông ra ga Hà Nội về quê, từ Hà Nội về ông ở lại quê ăn tết, sau đó là chiến tranh, ông không có cơ hội trở lại Huế với bà Giáng và cũng không có cơ hội gặp lại Cụ Hồ, ông lại lao vào công việc của chính quyền cách mạng trên quê hương.

Ông qua đời ngày 15/10/1950 thọ 62 tuổi

Từ Việt Bắc, Hồ Chủ tịch gửi về bức điện:

"Tôi xin chịu lỗi bất đễ trước linh hồn anh và xin bà con nguyên lượng cho một người đã hy sinh tình nhà vì phải lo việc nước".

Thưa quý vị!

Vì mải lo việc nước, mà phải hy sinh tình riêng, không thể trông nom, không thể lo liệu cho cả cha, cả chị, và cả anh. Đó cũng là nỗi đau sâu thẳm trong lòng Bác.

5. Chuyện về tình mẫu tử

Chuyện kể rằng: Đầu năm 1942 khi còn ở quê Nam Đàn, trước lúc bị bắt trở lại Huế, ông cả Khiêm tính chuyện cải cát cho mẹ.

Hồi đó ở vùng Nam Đàn có truyền câu sấm "Bạch tượng uyển hồ, Hồ trung nhất huyệt, nhất đại đế vương" (nghĩa là ở trên con voi trắng ở xứ Ao Hồ có một huyệt đạo, phát làm vua một đời) và dân tình truyền nhau thánh câu ca: "ở xứ Ao Hồ, có một huyệt đất, phát một con người, đế chẳng phải đế, vương chẳng phải vương, đi khắp tứ phương, về đứng đầu thiên hạ". Nhiều dòng họ trong vùng Hữu Biệt và Kim Liên đều đi tìm.

Là một thầy địa lý ông cả Khiêm không thể không quan tâm. Ông đi khắp vùng, cuối cùng tìm thấy một huyệt đạo đủ các tiêu chí linh địa.

Một ngày tốt lành đầu tháng 3 năm Nhâm Ngọ 1942 ông dẫn vài đứa cháu lên sườn núi Động Tranh, thuộc dãy núi Đại Huê, gần thung lũng Ao Hồ, đào đúng 9 huyệt rải rác khắp Động Tranh, rồi cho các cháu về.

Đêm khuya  một mình ông Khiêm lặng lẽ khấn vái xin phép thổ thần bản địa rồi đặt hài cốt mẹ xuống một trong 9 huyệt đã đào, khỏa đất bằng. Sáng hôm sau các cháu khỏa đất cho tất cả 9 huyệt bằng như cũ không có hình mộ, Như thế hài cốt bà Loan được lên núi Động Tranh bí mật, không ai biết chỗ nào, kể cả các cháu đào huyệt cũng không biết.

Tết năm 1946, sau khi gặp được Hồ Chủ tịch ở Hà Nội về, ông Khiêm yên tâm ngôi mộ đã phát, ông mời họ hàng lên núi Động Tranh, chỉ vào ngôi mộ và thưa: "Đây là mộ mẹ tôi".

Kính thưa quý vị đại biểu!

Kính thưa bà con đồng hương!

Gia đình cụ Phó Bảng Nguyễn Sinh Sắc - cha mẹ của Bác Hồ là như thế! Chị gái, anh trai của Bác Hồ là như thế!

Thật đau thương! "Trải qua một cuộc bể dâu,

                             những điều trông thấy mà đau đớn lòng".

Đất xứ Nghệ, đất Nam Đàn đã sinh ra họ, những người khí tiết, sống hiếu nghĩa, thủy chung.

Họ như một biểu tượng: Trời sinh ra để chịu suốt đời những nỗi đau, những điều bất công, bất hạnh trong một xã hội áp bức cường quyền.

Cái duy nhất mà họ còn được chỉ là niềm vui trong niềm vui chung của dân tộc được giải phóng, được độc lập tự do mà Bác Hồ đã lãnh đạo dân ta giành lại.

Để tưởng nhớ và biểu thị lòng biết ơn sâu nặng với bà Hoàng Thị Loan, cụ Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc, O Thanh, ông Cả Khiêm và cả Bác Hồ, chúng tôi đề nghị hội trường đứng dậy và giành một phút mặc niệm.

Xin cảm ơn!

Nguyễn Đình Lương - Phó ban liên lạc

      Giới Thiệu

TÁC GIẢ

    NGUYỄN ĐÌNH LƯƠNG

Sinh năm: Canh Thìn 1940
Quê Quán: Làng Thịnh Lạc, xã Hùng Tiến, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.
Chỗ ở hiện nay: 179 Đặng Tiến Đông, Gò Đống Đa, Hà Nội
Có thâm niên hơn 20 năm đàm phán thương mại cấp Chính phủ, bắt đầu là các Hiệp định với Liên Xô, với tất cả các nước Xã hội chủ nghĩa, sau đó là với các nước khác như Xin-ga-po, Ca-na-đa, Na Uy, Thụy Sỹ,.. và kết thúc là Hiệp định Thương Mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ.

 
|
Hiệp Định Thương Mại Việt Nam - Hoa Kỳ
|
|

Thiết kế website